Trần Nghi Hoàng | Mê trận và mê cung (trích tản văn Những Cơn Mưa Trên Mây)

Tranh, Huỳnh Lê Nhật Tấn

Tôi mê đọc từ nhỏ. Từ lúc biết ráp vần thành chữ, ráp chữ thành câu là tôi đã mê đọc. Chuyện này gia đình tôi ai cũng biết. Mà những bạn bè  của tôi cũng nhiều phen tán thán chuyện này. Bất cứ thứ gì có chữ là tôi đọc. Từ một tờ chương trình của rạp cine cho đến một bố cáo dán trên gốc cây ngoài phố. Và ngay cả những bảng hiệu hai bên đường đi. Có một lần, lúc đó tôi học ở trường tiểu học Chi Lăng Gia Định. Đã quá giờ tan học rất lâu mà tôi vẫn chưa về đến nhà, chị Tư xách xe đạp đi tìm tôi. Giữa đường chị thấy tôi ngồi xổm bên vệ đường, cạnh một gốc cây. Chị tấp xe vô hỏi:

“Tám đang làm gì đó? Sao không về nhà?”

Tôi giơ cái que cây nhỏ đang cầm trên tay lên rồi chỉ vào cuốn sách nằm dưới đất:

“Em đang đọc sách.”

Đó là cuốn Thủy Hử rách nát của ai vứt ngoài đường, đã dính đất bùn bẩn thỉu. Muốn đọc tôi phải dùng cái que cây để lật trang. Tan học về, đi giữa đường nhìn thấy cuốn sách là tôi xua tay bảo lũ bạn về trước. Tôi đi tìm một que cây rồi sà xuống bên cuốn sách, bắt đầu đọc say mê quên cả chuyện về nhà. Chị Tư tôi bảo:

“Cuốn sách rách dơ thấy ghê mà đọc nỗi gì. Cha má đang chờ Tám ở nhà đó. Lên xe chị chở về. Mau.”

Tôi đứng dậy vừa leo lên yên sau chiếc xe đạp của chị Tư vừa ngoái đầu nhìn cuốn sách tiếc nuối. Tôi vừa gặp Tống Giang, Tiều Cái, Võ Tòng… có chút xíu bây giờ lại phải chia tay.

Ngoài giờ học bài làm bài, cứ rảnh rỗi là tôi cầm một cuốn sách nào đó trên tay. Ngồi đọc, đứng đọc, kể cả nằm đọc. Cái thói mê đọc của tôi càng phát triển dữ dội vì một cơ duyên.

Thời gian đó, gia đình tôi đang ở nhà quê. Một hôm, tôi đang chơi với lũ trẻ con trước sân nhà máy xay lúa của anh Ba Tải con dì Ba tôi, bỗng anh Bảy Lập đi ngang qua. Nguyên tên của anh là Trần Trung Lập. Anh là em anh ba Tải, cùng là con dì Ba, chị của má tôi. Anh Lập có bằng thành chung, đã từng đi theo kháng chiến và bị thương ở cánh tay trái. Anh được coi như một trí thức ở làng quê. Nhìn thấy tôi, anh bảy Lập gọi:

“Tám lại anh Bảy biểu!”

Tôi lon ton chạy đến bên anh. Anh Bảy móc túi quần đưa tôi một cái chìa khóa và nói:

“Em chạy ù về nhà anh, dùng chìa khóa này mở cửa phòng sách. Vô đó lấy bịch thuốc và cái ống vố cho anh.”

Tôi thấy anh Bảy Lập là người duy nhất ở làng quê nhưng thỉnh thoảng lại ngậm pipe hút, tôi chộp cái chìa khóa trên tay anh rồi chạy đi. Nhà anh cũng ở gần đó, chỉ cách chừng chục thước. Nhà thường để cửa. Chỉ có một phòng trong căn nhà đó là cửa luôn được khóa. Ai cũng biết chuyện này.

Tôi loay hoay mở cửa căn phòng và bước vào trong. Ánh sáng lờ mờ từ cánh cửa tôi vừa mở cộng thêm ánh sáng từ cái cửa sổ nhỏ xíu bên vách trái cho tôi nhìn thấy quang cảnh trong căn phòng. Hai bên là những kệ sách, bên cạnh giường là một cái bàn nhỏ, trên bàn có một số tranh ảnh, vài thứ linh tinh, giấy bút. Cái ống vố và bịch thuốc cũng nằm trên đó. Nhưng điều quan tâm của tôi lúc bấy giờ không phải là bịch thuốc và cái ống vố mà là những cuốn sách. Tôi vớ cuốn này đọc vài câu rồi nhét  trở lại kệ sách, lại vớ cuốn khác. Nào Tam Quốc Diễn Nghĩa, Đông Chu Liệt Quốc. Những cuốn sách của Tự Lực Văn Đoàn… Nào Nho giáo Trần Trọng Kim, vài cuốn của ông Hồ Biểu Chánh và nhiều, nhiều những cuốn sách khác. Cuối cùng tôi lấy đại một cuốn là Trang Tử Nam Hoa Kinh của Nhượng Tống dịch và chú giải, do nhà Tân Việt in năm 1944. Tôi không thèm ngồi lên cái ghế có tay dựa cạnh bàn mà tụt bẹp xuống đất, tựa lưng vào kệ sách bắt đầu đọc Nam Hoa Kinh… mặc dù không hiểu gì hết. Lần đầu tôi đọc Nam Hoa Kinh giống như đọc một thứ thần chú chỉ mơ hồ nghe thấy âm thanh mà chẳng hiểu ngữ nghĩa. Rất lâu, rất lâu. Tôi nghe tiếng anh Bảy Lập như sát bên tai:

“Tám, mày đọc Nam Hoa Kinh mà có hiểu gì không?”

Tôi ngước lên, anh Bảy đang nhìn tôi cười cười, ánh mắt anh có vẻ thích thú. Tôi trả lời:

“Em chẳng hiểu gì hết. Nhưng… nó có vẻ hay.”

Anh Bảy Lập cười lớn:

“Mày không hiểu mà thấy nó hay là giỏi rồi đó.”

Anh nói tiếp:

“Được rồi! Từ nay, Tám giữ cái chìa khóa lúc nãy. Khi nào muốn đọc sách cứ vào đây mà đọc. Nhưng không được mang sách ra khỏi phòng và không được làm mất cái chìa khóa đó.”

Tôi mừng rơn cảm ơn anh Bảy.

Thế là từ đó, tôi bớt la cà chạy nhảy ngoài đồng hay trèo cây bắn ná. Hầu như có thì giờ trống là tôi lại chui vào căn phòng sách của anh Bảy Lập và vùi đầu vào những cuốn sách trong đó. Những cuốn sách tôi đọc không hiểu hoặc hiểu rất lờ mờ, lộn xộn nhưng vẫn luôn thấy vô cùng lý thú và thèm đọc nó. Kỷ niệm lần đầu đọc Nam Hoa Kinh của tôi là cho mãi đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ ông Trang Châu khẳng định rằng ông nghèo chứ không khổ. Có nghĩa, không cứ nghèo là phải khổ. Từ Trang Tử Nam Hoa Kinh ở những phút giây đầu tiên đó tôi học được một điều: Nghèo và Khổ không hẳn đi với nhau. Người ta vẫn có thể hạnh phúc, sung sướng trong cái nghèo nếu biết an nhiên tự tại.  Cả đời tôi đọc Đạo Đức Kinh và Nam Hoa Kinh nhiều lần. Mỗi lần tôi đều hiểu khác nhau. Cứ lần đọc này, thì dường như lại thấy mình hiểu nghĩa Nam Hoa Kinh đúng. Còn những lần đọc và hiểu trước kia là sai. Tuy nhiên lần đầu đọc Nam Hoa Kinh đó với tôi thật là một kinh nghiệm hết sức tuyệt vời.

Lúc gia đình tôi mới dọn lên Sài Gòn, trong nhà tôi chỉ có bộ Gia Long Tẩu Quốc, Gia Long Phục Quốc, và Hoàng Tử Cảnh Như Tây của Tân Dân Tử dường như do cha tôi mua. Tôi đọc tới đọc lui ba bộ này và tức tối nghĩ rằng lớn lên tôi sẽ viết  bộ Quang  Trung Bắc Đại Phá Quân Thanh, Nam Tiểu Trừ Nguyễn Ánh. Từ nhỏ, tôi đã không bao giờ thích Gia Long Nguyễn Ánh mà chỉ mê Nguyễn Huệ Quang Trung. Nguyễn Huệ Quang Trung đúng là vị tướng bách chiến bách thắng. Cả cuộc đời Long Nhưỡng Tướng Quân ngài chưa hề bại trận. Cùng thời với ngài bên Pháp có tướng Napoleon cũng lừng lẫy. Nhưng cuộc đời của Napoléon Bonaparte lại đã từng bại trận Waterloo. Tôi không ưa Gia Long Nguyễn Ánh vì ông này đánh nhau với Nguyễn Huệ Quang Trung cứ bị thua chạy dài. Tranh bá đồ vương thì tất nhiên có thua có thắng. Nhưng Gia Long Nguyễn Ánh mỗi lần thua lại đi cầu viện ngoại bang, bất kể chuyện rước voi về giày mả tổ.

Đầu những năm trung học, tôi tìm được các cuốn: Bản dịch Sử Thi Ramayana, Tư Tưởng Hiện Đại (quên tên tác gi ), Người Viễn Khách Thứ Mười của Nghiêm Xuân Hồng, Mưa Nguồn của Bùi Giáng và các cuốn của Albert Camus: Caligula (vở kịch diễn lần đầu năm 1945), L’Étranger ( Kẻ Xa Lạ), La Malentendu (Ngộ Nhận), L’Homme  Révolté ( Con Người Phản Kháng… Vài cuốn của Jean Paul Sartre như: Les mains sales (Những Bàn Tay Bẩn, 1948), La nausée (Buồn Nôn, 1938).

Tôi nghĩ những cuốn sách đầu tiên thời trung học này đã ảnh hưởng rất lớn với tôi. Có thể vì vậy mà sau này dấn thân vào nghề viết, cũng không biết nên gọi là nghề hay nghiệp, tôi đã khởi sự bằng những bài thơ.  Tôi rất thích viết sử thi, trường ca, thích viết kịch và trên hết là tôi càng ngày càng thích triết học. Và tôi cho rằng mọi hình thái của chữ nghĩa điều có thể dung chứa một tinh thần triết lý nào đó.

Chữ là mê lộ, là phương tiện, là con đường dẫn vào sách. Trong sách có ý tưởng, những ý tưởng có hệ thống làm thành tư tưởng. Thế giới của sách là thế giới của vô cùng. Chữ kết tụ lại thành sách. Và sách đã để lại cho nhân loại những kinh điển tư tưởng. Gia tài lớn nhất của nhân loại là kết tinh của chữ: Từ cuốn kinh xưa cổ nhất Veda, tới những cuốn sử thi xưa cổ của Ấn Độ như Ramayana và Mahabharata cho đến Lão Tử Đạo Đức Kinh, từ Thiên Kinh Vạn Quyển của Phật Giáo cho tới Nam Hoa Kinh… rồi những trường ca hay những vần thơ bất diệt của người xưa. Và sách đúng là mê trận. Đọc là những cuộc hẹn hò, tán tỉnh với nhan sắc, những cuộc chinh phục lý thú với cái đẹp mặc dù đọc đưa ta vào mê trận. Tuy nhiên, giữa mê trận ta vẫn có thể xông xáo, tả xung hữu đột để làm những cuộc chinh phục. Chinh phục ý tưởng, tư tưởng. Đọc là những cuộc hẹn hò đầy lý thú. Đó là những cảm nhận của tôi về đọc và về sách. Niềm say mê đọc sách của tôi dường như bất tận. Ngay cả lúc tôi bắt gặp được một niềm say mê khác cũng vô cùng mãnh liệt vào năm 14 tuổi, mãnh liệt chẳng kém gì niềm say mê đọc của tôi. Đó là viết. Tôi đã từng nghĩ, nếu đọc mỗi cuốn sách là một cuộc hẹn hò đầy lý thú thì viết sẽ đưa ta vào một cuộc tình mê đắm mải miết và cuộc tình đó chính là mê cung. Như vậy đọc đưa ta vào mê trận. Nhưng viết mới đưa ta vào mê cung. Trong mê cung, ta chỉ có một con đường: Là tiếp tục đi mịt mù, không biết đi tới hay đi lui vì ta hầu như không phân định được phương hướng. Muốn ra khỏi mê cung chỉ có cách rũ bỏ. Mà rũ bỏ, trong trường hợp này lại đồng nghĩa với chạy trốn chính mình. Từ khước chính mình, tức là tự xóa bỏ mình. Trên một nghĩa nào đó là tự giết mình.

Cũng không thể tưởng tượng được một người say mê viết mà lại không thích đọc. Cúi xuống đọc là một dạng thức thiền định. Mắt nhìn mũi. Mũi nhìn mồm. Đọc sách của người khác viết. Đọc ý tưởng thì ý tưởng là của người khác, nhưng đồng thời cũng là duyệt soát lại thân tâm chính mình, nhìn vào nội tại chính mình. Đọc là làm những cuộc du hành. Những cuộc du hành này có thể dẫn dắt ta đến những bờ mê bến mộng của những người cầm bút khác. Đến những chân trời bí ẩn của những tâm hồn khác lạ. Những tâm hồn không phải ta.

Và viết, lại cũng là một tư thế nhập thiền khác. Cuộc nhập thiền này có thể dẫn thiền giả, tức là tác giả mà cũng là hành giả đi vào một cuộc đại định vô cùng. Bởi, viết cũng là cúi xuống, cũng là hai mắt nhìn mũi, cũng là mũi nhìn mồm. Là ta nhìn vào thân tâm ta. Bắt đầu viết một tác phẩm là khởi sự đưa mình vào một cõi khác, không phải là cái cõi mà mình đang sống. Cái cõi khác đó là cái thế giới do mình dựng nên. Dù là một câu thơ, một bài thơ, một sử thi trường ca, một truyện ngắn hay một truyện dài cũng đều là những thế giới do tác giả tạo nên bằng chữ.

Với tôi, chữ mở ra những chân trời khác, vô cùng. Có lần tôi thấy một giấc mơ khiến tôi bần thần nhiều ngày đêm. Trong giấc mơ tôi thấy mình trôi bềnh bồng giữa biển chữ. Chung quanh là chữ. Đúng hơn là xác chữ, muôn ngàn triệu xác chữ trôi bềnh bồng chung quanh tôi. Tôi dự tính sẽ viết một trường ca có tên là Xác Chữ. Nhưng cho đến hôm nay, tôi vẫn chưa khởi sự viết trường ca này. Dường như giữa tôi và chữ có một định mệnh không lý giải. Tôi mơ hồ bắt gặp định mệnh này rất nhiều lần, nhưng vẫn không sao định hình nó được.

Cách đây nửa thế kỷ, trong lần đầu đọc Đường Thi Tam Bách Hữu, tôi có thấy định mệnh của mình với chữ. Thấy một cách hầu như rõ rệt. Nhưng sau đó cái rõ rệt đó tan biến dần, mà dù có cố gắng thế nào tôi cũng không cách chi thấy lại được cái định mệnh đó.

Sau này, khi viết trường ca Mở Cửa Tử Sinh, có một sát na tôi đã lại thấy cái định mệnh ấy. Khi cảm nhận những bia mộ trong nghĩa trang giống như những cánh buồm căng gió trên biển khơi. Tôi thấy cái định mệnh của tôi với chữ trong những bia mộ ấy. Rồi trường ca Kỳ Tích Từ Phương Đông, Sử thi Nhật Ký Thời Gian… Tất cả những công trình đang dang dở của tôi càng lúc càng hiển lộ những xác chữ. Đó là định mệnh tôi.

Tôi như nhìn thấy được điểm cuối cùng của tận hiến. Và tôi thấy mình như một con sâu vẫn còn đang nằm trong cái kén. Cái kén kết bằng chữ. Đúng hơn là bằng xác chữ. Ra khỏi cái kén đó, là tôi đi vào vô cùng.

Ngày 29 tháng 3 năm 2017