David Herbert Lawrence | Họ sống ở đầm (trích tiểu thuyết Cầu Vồng, chương II)

Mai Sơn dịch

Cô là con của một ông chủ đất người Ba Lan, mà vì mắc nợ đầm đìa những người Do Thái ông đã phải cưới một bà vợ người Đức giàu có, và ông chết ngay trước cuộc nổi loạn. Khi còn rất trẻ, cô lấy Paul Lensky, một trí thức từng học ở Berlin, và trở về Warsaw như một người yêu nước. Mẹ cô tái giá với một thương lái người Đức rồi theo ông ta đi đâu mất. Tiếp tục đọc

Paul Celan | Bảy bài thơ

Nguyễn Huy Hoàng dịch

Paul Celan sinh năm 1920 trong một gia đình Do Thái ở Czernowitz, khi đó thuộc Rumani. Năm 1942 quê hương ông bị Đức chiếm đóng và bố mẹ ông bị đưa đến trại tập trung, nơi họ qua đời sau đó. Thoát khỏi trại lao động, Celan đến Bucharest năm 1945 và sau một thời gian ngắn ở Vienna, ông đến Paris năm 1948, nơi ông ở lại, kiếm sống bằng nghề dịch và giảng dạy tại L’École Normal Superieure, cho đến khi tự sát năm 1970.
Tiếp tục đọc

André Aciman | Dưới bóng mờ của Freud

Vũ Thị Thanh Mai chuyển ngữ

André Aciman

Giống bao du khách đã đến Rome và khác bao thành phố tôi đã đi qua, Rome đã gợi cho tôi một bí ẩn mà tôi không thể xác định rõ ràng là điều gì trên bao tầng khối đá của bao thời đại. Là thẩm mỹ tuyệt tác hay là bí ẩn đằng sau sự tuyệt tác ấy? Làm sao sự luyến tiếc hoài niệm sống động đến như vậy sau khi tôi lìa Rome? Aciman hay Apollo, hoặc cả hai, đã giải thích cho tôi Dưới Bóng Mờ Của Freud. Tiếp tục đọc

Ryszard Kapuściński | Quan cảnh từ tháp thánh đường

Ryszard Kapuscinski

Phan Nhiên Hạo dịch

Ryszard Kapuscinski, (1932 – 2007) là nhà báo, nhà thơ, tác giả nổi tiếng người Ba Lan, sinh thời được xem là một ứng cử viên sáng giá của giải Nobel văn chương. Ông là một trong những tác giả Ba La được dịch nhiều nhất. Từ năm 1958 đến 1981, Kapuscinski là thông tín viên quốc tế của Thông Tấn Xã Ba Lan, cho đến khi bị đuổi việc vì ủng hộ phong trào dân chủ của Công Đoàn Đoàn Kết. Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Thiện | Chúng tôi ăn chữ

Nguyễn Thị Phương Trâm dịch sang tiếng Anh

Chúng tôi là một lũ đói khát, đói từ năm Ất Dậu đói sang năm Ất Mão đói đến năm Ất Mùi sang năm vẫn đói. Chúng tôi gầy gò nhưng rất háo danh, chúng tôi thèm ăn chữ. Chúng tôi ăn chữ của Du ăn chữ của Trãi ăn chữ của Giáng ăn nốt chữ của Viên… Tiếp tục đọc

Trần Băng Khuê | Nỗi buồn xanh trên sợi dây gai

Nguyễn Thị Phương Trâm dịch sang tiếng Anh

1.

Tôi thấy một khu rừng màu đen, trên nền tấm voan trắng.

Sau đó, tôi không nhìn thấy nữa. Có thể, mắt tôi hơi nhòa. Hoặc, bức tranh đã bị bôi xóa quá nhiều những ẩn tượng khiến tôi không tài nào nhận diện được ngay lập tức về nét vẽ, nước màu cũng như tất thảy thứ ảo giác kì lạ này. Tiếp tục đọc

Jericho Brown | Sáng ngày ra. Bullet Points. Duplex. Con virus. Nói cảm ơn nói xin lỗi

Jericho Brown

Nguyễn Huy Hoàng dịch

Jericho Brown sinh năm 1976 ở Shreveport, Louisiana. Anh đã xuất bản ba tập thơ và được trao giải Whiting cho thơ năm 2009, giải sách Anisfield-Wolf cho thơ năm 2015, và giải Pulitzer cho thơ năm 2020. Anh có bằng PhD tại Đại học Houston và hiện là giáo sư ngành văn học Anh tại Đại học Emory, thành phố Atlanta, nơi anh là chủ nhiệm chương trình Cao Học Nghệ Thuật (MFA) về sáng tác văn chương. Tiếp tục đọc

Đinh Trường Chinh | Cái đầu con người

Minh họa, Nguyễn Thị Phương Trâm

Nguyễn Thị Phương Trâm dịch sang tiếng Anh

cái đầu con người
dường như vô tận
bạn có thể chôn cả một quê hương trong ấy
chôn cả một bờ biển
chôn những cánh rừng
những con sông
chôn cả những bạn bè Tiếp tục đọc

Li-Young Lee | Giờ này và cái gì đã chết. Bồn chồn. Gấp một ngôi sao năm góc để năm góc chạm nhau. Cởi xống áo

Nguyễn Huy Hoàng dịch

Li-Young Lee

Li-Young Lee sinh năm 1957 ở thành phố Jakarta, Indonesia, trong một gia đình lưu vong người Trung Quốc. Năm 1959, sau một năm cha ông ngồi tù như một tù nhân chính trị, gia đình ông chạy khỏi Indonesia và lênh đênh khắp Hồng Kông, Ma Cao, và Nhật Bản, trước khi đến Mỹ năm 1964. Ông bắt đầu làm thơ khi là sinh viên tại Đại Học Pittsburgh, nơi ông theo học với nhà thơ Gerald Stern. Tiếp tục đọc

Nguyễn Văn Thiện | Chư Mang, mùa thu! Những gương mặt linh miêu

Nguyễn Thị Phương Trâm dịch sang tiếng Anh

Chư Mang, mùa thu!

Hắn đã làm một cuộc viễn du chỉ với mục đích xác định lại tính chân thực của cuộc sống, bản chất của nó, với tư cách là ngọn nguồn sáng tác. Và hắn đã chứng kiến dòng chảy mênh mang không bờ bến của cõi người trần tục, trong khi thánh thần vắng bóng từ lâu. Tiếp tục đọc

Trần Băng Khuê | Bức tường trong chai Tequila

Nguyễn Thị Phương Trâm dịch sang tiếng Anh

1.

Gã có thói quen mỗi buổi sáng thức dậy, gã thường tợp một ngụm Tequila và nhìn chăm chăm vào bức tường. Sau đó mới rời khỏi nhà, đến công sở. Nơi nào gã đến cũng có một bức tường tương tự như thế. Chỉ thiếu mỗi Tequila. Những bức tường xuất hiện ở khắp mọi nơi. Chỉ Tequila là không thể. Gã phải đến quán rượu. Ghé quầy bar của lão họa sĩ già. Tiếp tục đọc

Gregory Djanikian | Bữa tối đầu tiên trên đất nước mới. Mua thảm. Alexandria, 1953

Gregory Djanikian

Phan Nhiên Hạo dịch

Gregory Djanikian là người Armenia nhưng sinh ra ở thành phố Alexandria, Ai Cập, năm 1949. Ông nhập cư đến Mỹ năm tám tuổi, học cử nhân văn chương tại University of Pennsylvania và cao học nghệ thuật ở Syracuse University. Trong nhiều năm ông cũng là giám đốc chương trình dạy viết văn tại University of Pennsylvania. Tiếp tục đọc

Ba Đờ Phọt Press – Nguyễn Thúy Hằng | Giới thiệu Ba Đờ Phọt Press/ Bar De Force Press và Những Lũ Đời Mộng Mơ Khốn Khiếp

Thư ngỏ gởi người yêu sách

Để mở đầu chuỗi ấn phẩm của Ba Đờ Phọt Press, chúng tôi xin giới thiệu tuyển tập truyện ngắn song ngữ Những Lũ Đời Mộng Mơ Khốn Khiếp/ Goddamn Life Dreamers của nữ tác giả Nguyễn Thuý Hằng.

Bộ truyện ngắn này gồm 11 truyện ngắn được in trong sáu quyển sách mà chúng tôi sẽ lần lượt xuất bản, là những đoạn sáng tác mới xen kẽ với những truyện tác giả đã cho ra đời trước đó. Tiếp tục đọc