Trần Băng Khuê | Giấc mơ của đất

1.
Đất đứng trước toà, đất ngẩng cao đầu mắt ráo hoảnh. Toà hỏi: “đất ăn gì để sống?”, “đất ăn đất”, đất trả lời.

Toà lại hỏi: “đất uống gì để sống?”, “đất uống máu người”; đất trả lời.

Toà im lặng ít phút, quay mặt nhìn nhau, vị Chánh án gõ búa xuống mặt bàn, “chát”, rồi chậm rãi nói: “toà nghị án”. Tiếp tục đọc

Trần Nghi Hoàng | Mê trận và mê cung (trích tản văn Những Cơn Mưa Trên Mây)

Tranh, Huỳnh Lê Nhật Tấn

Tôi mê đọc từ nhỏ. Từ lúc biết ráp vần thành chữ, ráp chữ thành câu là tôi đã mê đọc. Chuyện này gia đình tôi ai cũng biết. Mà những bạn bè  của tôi cũng nhiều phen tán thán chuyện này. Bất cứ thứ gì có chữ là tôi đọc. Từ một tờ chương trình của rạp cine cho đến một bố cáo dán trên gốc cây ngoài phố. Và ngay cả những bảng hiệu hai bên đường đi. Tiếp tục đọc

Trần Nghi Hoàng | Nắng mưa cố thổ (trích tản văn Những Cơn Mưa Trên Mây)

Tranh, Huỳnh Lê Nhật Tấn

4. Nắng Mưa Cố Thổ

“Năm tháng trôi qua day dứt mãi đời ta
Nắng mưa miền cố thổ
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê”
(Sơn Nam, Hương Rừng Cà Mau) Tiếp tục đọc

Trần Nghi Hoàng | Mùi ổi dại (trích tản văn Những Cơn Mưa Trên Mây)

Bạch vân thiên tải không du du
Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu
(Nghìn năm mây bạc ngẩn ngơ vương
Quê cũ chiều tà xa mất hướng
Trên sông khói sóng gợi sầu thương)

Nguyên bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu dài 8 câu (bát cú) tôi chỉ cần giữ lại ba câu cho cuộc đời luân lạc. Tiếp tục đọc

Trần Băng Khuê | Đẹp và buồn [15-16] (tiếp theo)

Photo, Cao Hùng Lynh

[15]

Ở đó. Ngay trên những gờ cửa sổ. Mỗi tuần là một bình hoa nhỏ. Những ngày đầu tiên chúng tươi rói rực rỡ, căng mọng từng cánh mỏng, xanh mướt từng chiếc lá. Tôi không dám chắc có ai khác nghiêng mắt mỉm cười với những bông hoa, như tôi. Tiếp tục đọc

Túy Hồng | Đến khi mất tiếng nói

Túy Hồng. Ảnh, Cao Lĩnh, 1972

Nhà văn Túy Hồng tên thật Nguyễn Thị Tuý Hồng , sinh ngày 12 tháng 10 năm 1938 tại Phong Điền, Thừa Thiên-Huế. Bà tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế, bắt đầu viết văn vào năm 1962, có tác phẩm Thở Dài xuất bản lần đầu vào năm 1965, ngoài ra tác phẩm Những Sợi Sắc Không của bà đoạt giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc 1969-1970. Túy Hồng kết hôn với nhà văn Thanh Nam (1931 – 1985) vào năm 1966, có ba con trai và một con gái. Gia đình bà sang Mỹ vào năm 1975, ban đầu tạm cư tại New Jersey miền Đông Bắc, đến năm 1976 dời sang vùng Tây Bắc, định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Nhà văn Túy Hồng qua đời ngày 19 tháng 7 vừa qua, hưởng thọ 82 tuổi. Để tiễn bà lên trời, đánh máy lại “Đến Khi Mất Tiếng Nói của Túy Hồng” Tiếp tục đọc

Khánh Phương | Viết thơ vần điệu tiếng Anh

Một chứng nghiệm khó quên ở workshop (thực hành có trao đổi, góp ý) thơ mùa Xuân vừa rồi là viết hai bài thơ có vần điệu theo hai thể thơ truyền thống trong tiếng Anh. Khi tôi tò mò hỏi cô Holly, “Tại sao cô không yêu cầu các trò viết một vài bài thơ theo các thể có vần điệu (Formative poems)?” Tiếp tục đọc

Trần Băng Khuê | Đẹp và buồn [7-14] (tiếp theo)

[7]

Một giờ.

Ban mai bất ngờ thức tỉnh tôi.

Cảm giác u ám bị rửa trôi hết sạch bởi khoảnh khắc trong trẻo, thanh khiết ở phía nào đó xung quanh căn phòng và bốn bức tường rạn vỡ những nỗi khốn khổ của nỗi ấm ức, của những giọt lệ chảy ngược, của những ánh mắt trầm uất xa xăm. Tiếp tục đọc

Trần Băng Khuê | Đẹp và buồn

[1]

…níu lấy tôi vào những ngày sáng và tối nhập nhoà không phân rõ ranh giới sống hay chết, tỉnh thức hay mộng ảo, đời thực hay giả dối, quá khứ hay hiện tại. Tương lai là một thứ mang nhiều hàm ẩn chất chứa bí mật hoặc đã phơi bày trần trụi hết rồi trong cái không khí xám lạnh buổi sớm ở phố thành mà tôi ngỡ như sương mù tinh khiết yên lành đến độ không còn dám hoài nghi gì thêm nữa về thế giới này. Tiếp tục đọc

Trần Băng Khuê | Lá thư mùa thu gửi Auckland

Minh họa, Trịnh Cung

Nơi đó, đang mùa thu, đã sang thu từ đầu tháng tư rồi. Tôi không nghĩ mình sẽ mong nhớ những ngày thu đến độ quay quắt đến thế. Chỉ là không thể rời bỏ được thì quá khứ, từng lớp ký ức chồng lấn lên nhau. Dù đôi khi vỏn vẹn những vòng quanh lên đồi xuống dốc trong lòng một cái thành phố.

Tôi lục lọi mớ đồ vật từ chiếc túi canvas có in hình con chim kiwi, quà tặng sinh nhật của một người bạn ít tuổi đang làm nghiên cứu sinh bên ấy. Tiếp tục đọc

Trần Băng Khuê | Không thể rời khỏi những nơi như thế

Tranh, Trịnh Cung

Thứ sáu, Gloria J

Thường là ngày thứ sáu, hoặc hai ngày cuối tuần tôi mới rời khỏi building với bốn bức tường giáp mặt để ra phố. Tạt quán cafe quen dưới Queen st, Gloria J và Miann ở Britomart.

Tôi thích ngày thứ sáu hơn thứ bảy và chủ nhật. Thời gian của cuối tuần sẽ được kéo dài ra thêm một chút. Mọi người cũng sẽ bớt bận rộn hơn. Tôi thích cảm giác khi thấy những người thân quen của mình nở bừng sự sung sướng trên khuôn mặt. Tiếp tục đọc

Viên Linh – Hoài Điệp Tử (1942 – 1987), nhà văn nhà báo chết trong ngọn lửa Bolsa

9 tháng 8, 1987

Ngay buổi sáng tôi đã có mặt trước dãy nhà trên thông lộ Westminster thuộc thành phố Garden Grove, trong đó có một căn là tòa soạn báo Mai của Hoài Điệp Tử, bị đốt cháy trong đêm. Anh tên thật Phạm Văn Tập, sinh 1942 ở Bạc Liêu. Bên phải căn phố là tiệm bán sách cũ của một phụ nữ Mỹ. Không khí còn đượm mùi khói. Khung cửa sắt và tấm biển Tuần Báo Mai nám đen. Giải băng màu vàng của cảnh sát không cho chúng tôi tới gần, nhìn quanh thấy bạn hữu trong làng báo, có Nguyễn Tú A từ thuở ở Sài gòn. Ngọn lửa bắt xăng được cho biết là cháy bùng vào sau nửa đêm; xác Hoài Điệp Tử đã được mang đi. Mấy ngày trước, Hoài còn ngồi với chúng tôi trong quán Thiên Thanh bên cạnh, còn nhớ là có khá đông bạn hữu trong làng báo gốc người miền Nam như Trọng Viễn, Trần Xuân Thành, Lâm Tường Dũ… Không khí vẫn vậy: nói đủ thứ chuyện, tiếng chai cốc va chạm lanh canh, mùi khói thuốc lá, tiếng cười đùa, giọng phóng sự tâm tình và cả triết lý.

>>>

Phan Thị Lan Phương – Trái cà pháo non và dượng Sáu Củi

Khi nói đến trái cà pháo, người ta thường nghĩ ngay đến hũ cà pháo muối ăn với mắm tôm, như thể nó là đặc sản của người Bắc. Nhưng với tôi, cà pháo luôn là món thuần Quảng Nam với cách chế biến khác hẳn người Bắc.

Cà pháo xét ra là loại cây dễ trồng. Hễ ăn cà muối, vắt hột rồi đổ hắt ra đất là ít lâu sau mọc lên đám cà con. Cứ vậy, chẳng ai chăm sóc. Như đám con nít nhà quê, nó cứ lớn lên tự nhiên cho tới ngày ra bông, ra trái. Bông cà pháo tím nhạt, màu mà người ta gọi là tím Huế. Bông hình sao, chúc xuống, nấp dưới tán lá. Rồi từng trái cà non trắng nõn, lớn dần bằng đầu ngón tay cái, có trái to bằng đầu ngón chân cái. Nhằm bận mùa gặt lúa, cà pháo bị bỏ quên đến chín vàng cả cây. Nếu cà pháo miền Bắc ngâm muối, ăn với mắm tôm, cắn một phát là hột tràn trong miệng thì cà pháo miền Trung lại chế biến khác. Trái cà sau khi cắt cuống được chẻ làm đôi hoặc làm tư, để dính phần đít rồi ngâm muối. Chừng hai ngày sau, trái cà ngả màu nâu thì lấy ra, vắt sạch hột, chỉ giữ phần vỏ mỏng. Lý tưởng nhất của món này là ngâm với mắm cái ớt tỏi. Cắn một miếng cà pháo giòn rụm, thấm mùi mắm, ăn với cơm trắng thì ngon không chi bằng! Nhưng có lẽ, không có cách ăn cà pháo nào giống cách ăn cà pháo của dượng Sáu Củi.

>>>

Trần Minh Quân – Lập lại trăng mùa xuân. Một bức thư

Lập lại trăng mùa xuân
 

Bạn, lâu quá tôi không nghe tin gì từ bạn. Tôi lo lắm. Quan hệ của chúng ta không thể vô cớ mà đứt đoạn như thế. Bạn không thể vô tình mà bỏ tôi, tôi giận bạn đấy. Nếu bạn muốn tôi hết giận, tôi chỉ cách cho bạn. Chúng ta nói chuyện lại nhé, và sẽ nói như thế này:

>>>